FDI là gì? Những sự thật ít người biết về dòng vốn đầu tư nước ngoài

FDI không chỉ là vốn rẻ. Lịch sử cho thấy chuỗi cung ứng, ổn định và thị trường mới quyết định dòng FDI dài hạn.

Một vài điều mà đa phần mọi người không biết về FDI.

Phát triển kinh tế bằng FDI là một hiện tượng kinh tế có tuổi đời tương đối trẻ nếu nhìn theo nghĩa hiện đại. Dòng vốn đầu tư xuyên biên giới đã tồn tại từ rất lâu, nhưng FDI theo nghĩa các tập đoàn đa quốc gia tổ chức chuỗi sản xuất toàn cầu chỉ thật sự hình thành và bùng nổ trong khoảng 50–60 năm trở lại đây. Trước thập niên 1970, thế giới bị chia cắt bởi Chiến tranh Lạnh, hệ thống thương mại đa phương chưa hoàn chỉnh và hầu hết các nền kinh tế vẫn duy trì mức bảo hộ rất cao để bảo vệ sản xuất trong nước.

FDI vào các nước đang phát triển từ thập kỉ 70.
FDI vào các nước đang phát triển từ thập kỉ 70.


Chỉ có một số ngoại lệ mang tính chiến lược, điển hình là việc Mỹ mở cửa thị trường cho Nhật, Hàn, Đài Loan xuất khẩu với thuế quan ưu đãi trong khi chấp nhận để các nước này duy trì hàng rào bảo hộ cao đối với hàng hóa Mỹ. Còn lại, phần lớn các quốc gia đều vận hành theo mô hình kinh tế đóng hoặc bán đóng.

Sau thập niên 1980, đặc biệt là sau Hiệp ước Plaza, Nhật Bản mới bắt đầu một làn sóng FDI mạnh mẽ ra bên ngoài, chủ yếu sang châu Á. Trước đó, FDI vẫn chủ yếu đến từ Âu – Mỹ và tập trung nhiều hơn vào các nước phát triển, quy mô còn hạn chế đối với thế giới đang phát triển.

Tuy nhiên, phải sau khi Liên Xô tan rã, Chiến tranh Lạnh kết thúc và WTO ra đời vào giữa thập niên 1990, toàn cầu hóa mới thật sự hình thành đầy đủ và dòng vốn FDI mới bùng nổ trên phạm vi toàn cầu. Nói cách khác, Trung Quốc và Việt Nam phát triển đúng vào giai đoạn bùng nổ FDI, trong khi Nhật, Hàn, Đài Loan đi lên trong thời kỳ mà FDI còn hạn chế và quyền bảo hộ, đóng cửa thị trường vẫn còn rất lớn.

Sự dịch chuyển của FDI không đơn thuần đi theo chi phí. Chi phí thấp chỉ là điều kiện ban đầu. Các yếu tố như mức độ mở cửa, hạ tầng, chuỗi cung ứng, tính ổn định chính trị và khả năng thực thi cam kết mới là thứ quyết định dòng vốn dài hạn. Trường hợp tiêu biểu là chuỗi sản xuất ô tô và điện tử của Nhật tại Thái Lan. Khi Nhật bắt đầu cho dòng vốn đi ra ngoài, Thái là thị trường mở cửa nhất trong khu vực đối với họ – mở cửa theo tiêu chuẩn thời đó, chứ so với hiện nay thì vẫn rất hạn chế. Ngay cả trong bối cảnh đó, Thái vẫn chủ yếu khuyến khích Nhật sản xuất để phục vụ thị trường nội địa và luôn tìm cách ép chuyển giao công nghệ, điều mà phía Nhật không chấp nhận.

Chỉ sau khủng hoảng 1997, dưới áp lực cải cách của IMF, Thái Lan mới mở cửa sâu hơn, cho phép các doanh nghiệp phụ trợ Nhật Bản phát triển mạnh và hoàn thiện một chuỗi cung ứng đầy đủ. Từ đó hình thành một trung tâm sản xuất ô tô quy mô lớn, biến Thái thành “Detroit của châu Á”. Khi chuỗi cung ứng đã khóa chặt và thị trường nội địa đủ lớn, thì ngay cả khi chi phí tăng và chính trị không ổn định, cả Việt Nam lẫn Trung Quốc – dù có chi phí rẻ và ổn định hơn – cũng không thể bứt chuỗi này ra khỏi Thái. Hai nước vì vậy lựa chọn hình thành các ngành công nghiệp khác thay vì lao vào cạnh tranh trực diện với chuỗi ô tô Nhật đã trưởng thành ở Thái.

Tương tự là ngành đóng gói và kiểm định chip bán dẫn ở Malaysia. FDI đã vào Malaysia từ thập niên 1970, tức là đã tồn tại ở đây hơn nửa thế kỷ. Dù chi phí lao động và sinh hoạt ở Malaysia tăng dần lên mức của một nước trung bình khá, các nước ASEAN xung quanh như Việt Nam, Thái Lan hay Indonesia vẫn không thể kéo được chuỗi này ra khỏi Malaysia. Chi phí chỉ là một phần; độ trưởng thành của chuỗi cung ứng, năng lực kỹ thuật và lực lượng lao động chuyên biệt khiến Intel, Infineon, AMD… tiếp tục chọn Malaysia.

Mỹ, EU và Trung Quốc thường xuyên là ba khu vực thu hút FDI lớn nhất thế giới. Trung Quốc chủ yếu thu hút FDI nhờ chi phí sản xuất thấp và thị trường nội địa khổng lồ, nhưng phần lớn là FDI cho sản xuất và lắp ráp. Ngược lại, Mỹ và EU là các thị trường đã phát triển, chi phí rất cao, nhưng lại thu hút những dòng FDI có giá trị vượt trội: tài chính, R&D, quản lý chuỗi, trung tâm phân phối và tiêu thụ tại chỗ. Những dòng FDI này tạo ra giá trị và chất lượng việc làm cao hơn rất nhiều so với FDI sản xuất thuần túy.

FDI ngày nay cũng đã phân tầng rất rõ. Ở mức thấp nhất là các ngành thâm dụng lao động, công nghệ thấp, ít yêu cầu về môi trường và hạ tầng. Kế tiếp là các ngành vẫn dùng nhiều lao động nhưng đòi hỏi sạch, xanh và hạ tầng tốt hơn. Cao hơn nữa là các ngành tự động hóa cao, sạch, xanh, đòi hỏi hệ thống logistics, năng lượng và chính sách ổn định ở mức rất cao. Cuối cùng là các ngành cao cấp như tài chính, công nghệ, R&D – nơi mà ngoài hạ tầng và thị trường, còn đòi hỏi một chính phủ hiệu quả, minh bạch và khả năng cam kết ổn định rất dài hạn trong một thế giới địa chính trị biến động.

Nhìn từ lịch sử có thể thấy, FDI càng cao cấp thì càng khó dịch chuyển. Chuỗi cung ứng hiện đại cực kỳ phức tạp; một sản phẩm là kết quả của hàng chục, thậm chí hàng trăm công ty ở nhiều quốc gia. Thiết kế lại chuỗi đó chỉ vì biến động ngắn hạn là vô cùng tốn kém nếu không có gì đảm bảo ổn định 10–20 năm. Vì vậy, dù Ấn Độ hay một số nước bị Mỹ áp thuế cao, Samsung, Apple hay các tập đoàn lớn vẫn không lập tức rời đi, vì họ hiểu đó có thể chỉ là biến động vài năm trong khi nhà máy và chuỗi cung ứng được xây dựng cho nhiều thập kỷ.

Quan trọng hơn, quốc gia nào có sức tiêu thụ lớn, luật lệ minh bạch, hạ tầng tốt và nguồn nhân lực chất lượng cao thì sẽ càng thu hút được FDI có giá trị cao.

Với Việt Nam cũng vậy. Sẽ có người đi khi môi trường không còn phù hợp, nhưng cũng sẽ có người đến khi nền kinh tế tiếp tục hoàn thiện. Những quốc gia trên 100 triệu dân, chi phí còn cạnh tranh, sát Trung Quốc, chính trị ổn định, có mạng lưới FTA rộng, vị thế địa chính trị cân bằng và sẵn sàng cam kết dài hạn với FDI là rất hiếm. Chính sự hội tụ đó mới là lợi thế thật sự của Việt Nam.

P.S: Riêng Việt Nam, FDI còn tạo ra 1 hiện tượng kinh tế đặc biệt mà bạn không biết đâu, đó là: Long Thành ! 😁

Cái hình là FDI vào các nước đang phát triển từ thập kỉ 70. 

Châu Nguyễn, 14/01/2026

Đăng nhận xét

0 Nhận xét